Nên bỏ hẳn việc đình chỉ mà vẫn kết tội

Đăng lúc: Thứ ba - 07/04/2015 07:49 - Người đăng bài viết: Admin
Nên bỏ hẳn việc đình chỉ mà vẫn kết tội

Nên bỏ hẳn việc đình chỉ mà vẫn kết tội

Đã đình chỉ điều tra nhưng trong quyết định đình chỉ vẫn ghi công dân đó có hành vi phạm tội. Như thế phải chăng là vi hiến?
Trên số báo hôm qua (25-3), chúng tôi có đăng bài “Kết án oan nhưng không chịu bồi thường”. Bài báo phản ánh trường hợp bị oan của anh Nguyễn Bá Kết ở Đức Linh, Bình Thuận. Ban đầu cơ quan tố tụng huyện Đức Linh khởi tố anh Kết tội gây rối trật tự công cộng, sau đó cơ quan tố tụng tỉnh Bình Thuận chuyển sang tội giết người và TAND tỉnh này kết án anh 10 năm tù. Sau khi cấp phúc thẩm hủy án để điều tra, xét xử lại, anh Kết được đình chỉ điều tra.

Đình chỉ nhưng… vẫn có tội đấy!

Thật ra trước khi đình chỉ điều tra, VKSND tỉnh Bình Thuận đã hủy bỏ quyết định phê chuẩn quyết định chuyển đổi tội danh (từ gây rối sang giết người) trước đây. Nói dễ hiểu, lúc này anh Kết không còn bị khởi tố tội giết người nữa mà đang là bị can của tội gây rối trật tự công cộng. Sau đó cơ quan điều tra Công an huyện Đức Linh cho rằng “hành vi của bị can có phần lỗi của người bị hại và hiện nay không còn nguy hiểm nữa” nên ra quyết định đình chỉ điều tra. Đây là lý do đình chỉ theo khoản 1 Điều 25 BLHS, theo đó bị can, bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự “do chuyển biến tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”.

Với lý do đình chỉ này, theo khoản 1 Điều 27 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, anh Kết sẽ không được bồi thường oan. Ngược lại, anh Kết còn bị coi là có tội, chẳng qua được miễn trách nhiệm hình sự mà thôi. Trong khi đó, anh Kết cho rằng anh không hề có hành vi gây rối mà hoàn toàn bị khởi tố, điều tra và kết án oan. “Cơ quan điều tra đình chỉ như vậy chẳng khác nào khẳng định tôi có tội, đây là cách để họ né bồi thường oan” - anh Kết nói.

Trường hợp của anh Kết chỉ là một trong rất nhiều vụ đình chỉ theo kiểu né bồi thường oan mà báo Pháp Luật TP.HCM từng nhiều lần phản ánh.

Anh Nguyễn Bá Kết khẳng định mình không phạm tội gây rối trật tự công cộng nhưng quyết định đình chỉ điều tra lại không minh định anh vô tội. Ảnh: NGÂN NGA

 

Có vi hiến, trái luật?

Đình chỉ điều tra bị can là quyết định tố tụng được quy định trong BLTTHS, dựa vào các căn cứ quy định trong BLTTHS và BLHS. Phần lớn các trường hợp đình chỉ đều xác định một công dân bị khởi tố, điều tra trước đó sẽ không còn bị điều tra, truy tố và xét xử nữa. Nó là căn cứ pháp lý để xác định công dân ấy không phạm tội và được bồi thường oan theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Tuy nhiên, với những trường hợp đình chỉ căn cứ vào Điều 25 BLHS (nhất là ở khoản 1, như của anh Kết trên đây) và khoản 2 Điều 69 BLHS (miễn trách nhiệm hình sự cho người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ…) thì lại khác. Khi đó, công dân bị khởi tố trước đó không được minh định là vô tội; ngược lại, họ vẫn bị coi là có tội (chẳng qua là được miễn trách nhiệm hình sự), bằng chứng là họ không được xin lỗi, bồi thường oan.

Trong khi đó, khoản 1 Điều 31 Hiến pháp hiện hành của nước ta quy định: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Điều 9 BLTTHS cũng nói rõ: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.

Vậy thì tại sao một người lại bị coi là có tội khi tòa án chưa kết tội họ bằng bản án có hiệu lực pháp luật mà chỉ với quyết định đình chỉ điều tra bị can? Phải chăng quyết định đình chỉ điều tra thuộc hai trường hợp nói trên đã vi hiến và trái với nguyên tắc cơ bản của BLTTHS?

Nên để tòa án phán xử?

Vậy thì sự bất cập nói trên nên giải quyết thế nào?

Như đã nói, với những trường hợp đình chỉ điều tra mà xác định một người không phạm tội thì cơ quan tố tụng nên làm. Còn một khi cơ quan điều tra và VKS “cảm thấy” có đủ chứng cứ để bảo vệ quan điểm cho rằng ai đó có tội thì anh cứ việc đề nghị và truy tố ra tòa. Khi đó, căn cứ vào chứng cứ cũng như kết quả tranh tụng, tòa sẽ ra phán quyết kết luận người đó có tội hay không có tội.

Thế còn việc miễn trách nhiệm hình sự thì sao? Chuyện này không hề khó, trong bản cáo trạng và khi thực hiện chức năng công tố, ngoài việc chứng minh bị cáo có thực hiện hành vi phạm tội, anh có thể đề nghị tòa miễn trách nhiệm hình sự cho họ kèm các căn cứ xác đáng theo luật định. Khi đó, nếu tòa kết luận bị cáo có tội, tòa sẽ ra luôn phán quyết miễn trách nhiệm hình sự cho họ, nếu đủ căn cứ theo luật. Bằng ngược lại, tòa tuyên bị cáo vô tội.

Làm như vậy, một mặt bị can/bị cáo có đủ điều kiện để tự mình hoặc/và nhờ luật sư bào chữa cho mình, khi tòa tuyên có tội, anh ta vẫn còn quyền kháng cáo. Mặt khác, nếu thật sự anh ta có tội như quan điểm của cơ quan điều tra và VKS thì rõ ràng việc kết tội anh ta đúng với tinh thần của Hiến pháp và nguyên tắc cơ bản của BLTTHS.

Tất nhiên, để thực hiện những điều trên đây, chúng ta phải sửa luật, sửa những quy định liên quan.

Tạo điều kiện để tranh tụng sòng phẳng

Có ý kiến cho rằng cứ giữ nguyên quy định như hiện nay, tức cơ quan tố tụng có quyền đình chỉ theo hướng vẫn kết tội bị cáo vì nó rút ngắn thủ tục, tránh tốn thời gian, công sức. Hơn nữa, người bị đình chỉ vẫn có quyền khiếu nại theo quy định của BLTTHS.

Tuy nhiên, có rất ít người (được đình chỉ) biết rõ quyền khiếu nại này. Vì vậy, thường sau khi nhận quyết định đình chỉ, họ chỉ làm đơn kêu oan gửi đi khắp nơi mà không làm đơn khiếu nại gửi đúng thời hạn luật định. Đó là chưa nói ngay trong quyết định đình chỉ, cơ quan điều tra cũng không ghi rõ quyền khiếu nại của người được đình chỉ như cách mà bản án của tòa ghi rõ quyền kháng cáo của bị cáo.

Ngoài ra, việc “chống án” bằng con đường khiếu nại không phải là “không gian tố tụng” tốt để người được đình chỉ trình bày, đưa ra các chứng cứ nhằm bảo vệ sự ngoại phạm của mình. Họ không được trực tiếp, trực diện tranh tụng với VKS như ở phiên tòa để “bào chữa”, bảo vệ quyền lợi cho mình.

Nhưng trên hết, nếu xác định việc đình chỉ mà kết tội là vi hiến thì không lý do gì không thay đổi tư duy và sửa luật để thực hiện.


lắp đặt camera

Nguồn tin: phapluattp
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu về Văn phòng Luật sư BT

   Văn phòng luật sư BT được hình thành và phát triển bởi đội ngũ luật sư và chuyên viên năng động, có tinh thần trách nhiệm cao và tận tâm với công việc. Chúng tôi tự hào với 4 luật sư hoạt động chuyên trong các lĩnh vực sau: - Luật sư Trần Hữu Kiển – Trưởng Văn phòng – chuyên tư vấn...

DANH MỤC

LUẬT SƯ TƯ VẤN

CHI NHÁNH BẾN TRE

 
ĐT Luật sư Kiển: 0918884995


CHI NHÁNH HÒA BÌNH

ĐT Luật sư Hoàng Yến: 
0966337968

ĐT Luật sư Kiển: 0918884995


CHI NHÁNH BÌNH DƯƠNG

ĐT Luật sư Hưởng: 0918001949

 

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 63
  • Hôm nay: 3024
  • Tháng hiện tại: 45060
  • Tổng lượt truy cập: 1134523
văn phòng luật sư | du lịch Bến Tre | thiết bị pccc | du lịch làng quê | đấu giá Bến Tre | khách sạn Phú Quốc | vách ngăn di động | vách ngăn vệ sinh

Văn Phòng Luật Sư BT

- Trụ sở: Số 49  An Định 1, An Ngãi Trung, Ba Tri, Bến Tre; Điện thoại: 0918884995 - Luật sư Kiển
- Chi nhánh An Sương: số 133 đường ĐHT 05, phường Tân Hưng Thuận, Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh. Điện thoại: (08)35075669; 0966337968 - Luật sư Hoàng Yến; Fax: (08)39738867; 0918884995 - Luật sư Kiển
- Chi nhánh Bình Dương: 1A/44 khu phố Bình Đức 1, phường Bình Hòa, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Điện thoại: (065)06514579; 0918001949 - Luật sư Hưởng.
- Chi nhánh Bến Tre: 105A, đường Đồng Văn Cống, ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (Đối diện Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre). Điện thoại: (075)3701357; 0918.884.995 - Luật sư Kiển; Fax: (075)3511143

Du lich sinh thai mien tay Rao vat Ben Tre Nha dat Ben Tre Nong nghiep do thi ben tre